Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Chủ nhật, ngày 19/09/2021

Lấy ý kiến nhân dân về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật "Dự thảo Nghị định Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định số 60/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hoạt động in và Nghị định số 25/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP của Chính phủ"

Các ý kiến đóng góp
Người gửi: Lê Văn Khang
Email:khangvan00214@yahoo.com

Kính chào quý Bộ

Xem văn bản lấy ý kiến tôi có một số thắc mắc là:

*Tên nghị định là hoạt động in nhưng chỉ toàn quy định về cơ sở in vậy còn người đặt in, thợ in, máy in thì chưa có.

* Theo Luật đầu tư thì in là ngành nghê kinh doanh có điều kiện, tức là chỉ Luật đầu tư chỉ quy định về hoạt động kinh doanh về ngành nghề in. Nhưng tôi thấy, hoạt động in đâu chỉ có để kinh doanh, trong khi có rất nhiều và thực tế là nhu cầu in không kinh doanh, in để sử dụng riêng, in cho các cơ quan, đơn vị, in trong gia đình.

Tóm lại, tôi thấy nếu dự thảo chỉ đề cập và quan tâm đến hoạt động in kinh doanh theo hướng của Luật đầu tư thì nên quy định thay đổi lại là: Nghị định về hoạt động kinh doanh, dịch vụ in....


- 19 ngày trước
Người gửi: Hoàng Dương
Email:hoangduong@gmail.com

Hiện nay các thủ tục hành chính đã thực hiện thông qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Tuy vậy, các thủ tục "Đăng ký hoạt động cơ sở in" cơ quan quản lý phải ký xác nhận trên tờ khai, nên không thể thực hiện thông qua dịch vụ công trực tuyến. Do đơn vị scan giấy tờ (chưa có ký số) thì chưa thể ký số trực tiếp trên tờ khai. Đề nghị tách phần ký xác nhận thành văn bản để thuận lợi trong thực hiện dịch vụ công trực tuyến.


- 1 tháng trước
Người gửi: Đào Quốc Hùng
Email:hungdao1277@gmail.com

Xin phép được góp một số ý sau:

 Về cấp phép hay xác nhận đăng ký hoạt động cơ sở in như thể hiện tại Dự thảo theo hướng Tỉnh này cấp luôn cho chi nhánh cơ sở in tại tỉnh khác là không phù hợp thực tiễn bởi: Đa phần cơ sở in hiện nay đều có nhà máy phân xưởng ở tỉnh khác (là nơi hoạt động chính), còn trụ sở chính chỉ có bộ phận văn phòng, thậm chí không có bộ phận nào cả mà chỉ lấy địa chỉ nhà riêng chủ yếu ở Hanoi hay Tphcm để thành lập công ty (trụ sở chính). Nên ngay bản thân trụ sở chính còn ko hoạt động thì Ubnd tỉnh (Sở địa phương) cấp phép đã là không hợp lý rồi, nay lại còn quy định cấp với tay sang tỉnh khác (đối với chi nhánh của cơ sở in thuộc tỉnh mình) thì lại càng vô lý về thẩm quyển và địa bàn.

Do đó, đề nghị điều chỉnh theo cách: Đối với doanh nghiệp in có chi nhánh ở tỉnh thành khác nên do Bộ TTTT cấp phép hay xác nhận đăng ký hoạt động, đảm bảo đúng nguyên tắc trong Luật chính quyền địa phương. Hoặc phân cấp rõ nếu doanh nghiệp in đặt chi nhánh ở tỉnh nào thì tỉnh đó cấp phép/xác nhận cho doanh nghiệp đó đươc hoạt động in tại chi nhánh.

Xin cảm ơn


- 1 tháng trước
Người gửi: Huynh van anh
Email:vananhhuynh@yahoo.com

 Xin gui quy Bộ TTTT

Viec quy định về cấp phép nhập khẩu thiêt bị in hiện nay và trong dự thảo Nghi định là chưa đúng, chưa thống nhất và có thiếu so với Luật Quản lý ngoại thương và Nghị dịnh 69/2018/NĐ-CP. Vì theo Nghi dịnh 69 chỉ có 2 loại máy phải có giấy phép nhập khẩu và phải đáp ứng điều kiện (den nay van chưa có quy định điều kiện). 

Mặt khác, cần hiểu rõ hoạt động xuất nhập khẩu không phải là hoạt động in, và phải tuân thủ Luật Quản lý ngoại thương và Nghi dinh 69/2018/NĐ-CP

Xin góp ý và mong được tiếp thu.
 


- 1 tháng trước
Người gửi: huynh van huy
Email:vanhuyin@gmail.com

 Kinh gởi quý Bộ TTTT

Theo quy định tại Nghị định số 69 năm 2018 ve hương dan Luật Quản lý ngoại thuong thì chỉ có các hàng hóa gồm:
          1."Hệ thống chế bản chuyên dùng ngành in"; 
          2. Máy in các loại: Ốp xét (offset), Flexo, ống đồng, letterpress, máy in lưới (lụa); 
          3. Máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu
Mới có trong doanh mục hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép, điều kiện thuộc phạm vi quản lý của Bộ TTTT. Theo đó, Nghị định số 25/2018/NĐ-CP cũng đã cắt bỏ việc cấp phép nhâp khẩu của hệ thống chế bản, và hệ thống hoàn thiện sản phẩm sau in. Tuy nhiên, Nghị định số 25 này không đưa ra quy định về điều kiện đối với hàng hóa, nên đã dẫn đến việc tất cả các hàng hóa nêu trên (số 2 và số 3) đều phải có giấy phép khi nhập khẩu (tức là không có sàng lọc, phân loại, hạn chế gì so với Nghị định 60 và Thông tư 41). 
Nay, trong dự thảo Nghị định quy định LẤY LẠI tất cả 04 loại thiết bị hàng hóa (trong Nghị định số 60/2014/NĐ-CP khi chưa cắt bỏ bằng Nghị định 25) yêu cầu phải KHAI BÁO NHẬP KHẨU, sẽ dẫn đến các tình huống bất cập sau đây:
      - Tình huống 1: Quy định như dự thảo Nghị định sẽ không thống nhất với quy định tại Nghị định số 69/2018/NĐ-CP (vì đây là văn bản chuyên ngành về XNK, còn dự Nghị định này là văn bản về chuyên ngành in) -> phát sinh chủng loại hàng hóa so với Nghi định 69. Nếu về nguyên tắc dự thảo Nghị định này cần phải bảo đảm sự phù hợp theo Nghị định số 69 tức là chỉ giới hạn hoặc ít hơn 03 loại máy nêu trên (mà hiện nay theo Nghị định số 25 là đang ít hơn 01 loại).
      - Tình huống 2: Dự thảo Nghị định lại tiếp tục không đưa ra các tiêu chí điều kiện đối với 03 loại hàng hóa, tức là chưa tạo sự đồng bộ với Nghị định số 69, và có thể hiểu là đang tiếp tục "vơ vào" để quản lý bằng KHAI BÁO trong khi thực tế hiện nay có rất nhiều máy thế hệ lạc hậu (tạm gọi là máy rác) sẽ có "cửa" vào Việt Nam mà không có lý do từ chối từ cơ quan nhà nước.
       - Tình huống 3: Việc quy định như dự thảo Nghị định về Thủ tục Khai báo nhập khẩu hiện nay đang được hiểu là khai báo TRƯỚC THÔNG QUAN. Vậy đây là một hình thức "cấp phép" với tên gọi khác, áp dụng cho tất cả 04 loại máy quy định tại Nghị định số 60 (mà trong khi đã có 02 máy bị cắt bỏ bằng Nghị định số 25). 
         GÓP Ý, KIẾN NGHỊ như sau:
Để đơn giản hóa, thông thoáng cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm công tác quản lý, kiến nghị sửa đổi quy định về nhập khẩu thiết bị in như sau:
      Cần quy định rõ hình thức CẤP PHÉP NHẬP KHẨU (dịch vụ công mức 4) đối với thiết bị ĐỦ ĐIỀU KIỆN (có thể là niên hạn, loại công nghệ, công năng, v,v...) như đã thực hiện trước khi có Nghị định số 25 để bảo đảm thống nhất với Nghị định số 69/2018/NĐ-CP, hoặc cắt giảm mạnh mẽ hơn thì chỉ cần quy định thiết bị ĐỦ ĐIỀU KIỆN mới được nhập khẩu (mà không cấp cấp giấy phép như hiện nay)
 
Xin cám ơn quý Bộ

- 1 tháng trước
Người gửi: huynh van huy
Email:huyvanin@gmail.com

Kinh gởi quý Bộ TTTT

Theo quy định tại Nghị định số 69 năm 2018 ve hương dan Luật Quản lý ngoại thuong thì chỉ có các hàng hóa gồm:

          1."Hệ thống chế bản chuyên dùng ngành in"; 

          2. Máy in các loại: Ốp xét (offset), Flexo, ống đồng, letterpress, máy in lưới (lụa); 

          3. Máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu

Mới có trong doanh mục hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép, điều kiện thuộc phạm vi quản lý của Bộ TTTT. Theo đó, Nghị định số 25/2018/NĐ-CP cũng đã cắt bỏ việc cấp phép nhâp khẩu của hệ thống chế bản, và hệ thống hoàn thiện sản phẩm sau in. Tuy nhiên, Nghị định số 25 này không đưa ra quy định về điều kiện đối với hàng hóa, nên đã dẫn đến việc tất cả các hàng hóa nêu trên (số 2 và số 3) đều phải có giấy phép khi nhập khẩu (tức là không có sàng lọc, phân loại, hạn chế gì so với Nghị định 60 và Thông tư 41). 

Nay, trong dự thảo Nghị định quy định LẤY LẠI tất cả 04 loại thiết bị hàng hóa (trong Nghị định số 60/2014/NĐ-CP khi chưa cắt bỏ bằng Nghị định 25) yêu cầu phải KHAI BÁO NHẬP KHẨU, sẽ dẫn đến các tình huống bất cập sau đây:

      - Tình huống 1: Quy định như dự thảo Nghị định sẽ không thống nhất với quy định tại Nghị định số 69/2018/NĐ-CP (vì đây là văn bản chuyên ngành về XNK, còn dự Nghị định này là văn bản về chuyên ngành in) -> phát sinh chủng loại hàng hóa so với Nghi định 69. Nếu về nguyên tắc dự thảo Nghị định này cần phải bảo đảm sự phù hợp theo Nghị định số 69 tức là chỉ giới hạn hoặc ít hơn 03 loại máy nêu trên (mà hiện nay theo Nghị định số 25 là đang ít hơn 01 loại).

      - Tình huống 2: Dự thảo Nghị định lại tiếp tục không đưa ra các tiêu chí điều kiện đối với 03 loại hàng hóa, tức là chưa tạo sự đồng bộ với Nghị định số 69, và có thể hiểu là đang tiếp tục "vơ vào" để quản lý bằng KHAI BÁO trong khi thực tế hiện nay có rất nhiều máy thế hệ lạc hậu (tạm gọi là máy rác) sẽ có "cửa" vào Việt Nam mà không có lý do từ chối từ cơ quan nhà nước.

       - Tình huống 3: Việc quy định như dự thảo Nghị định về Thủ tục Khai báo nhập khẩu hiện nay đang được hiểu là khai báo TRƯỚC THÔNG QUAN. Vậy đây là một hình thức "cấp phép" với tên gọi khác, áp dụng cho tất cả 04 loại máy quy định tại Nghị định số 60 (mà trong khi đã có 02 máy bị cắt bỏ bằng Nghị định số 25). 

         GÓP Ý, KIẾN NGHỊ như sau:

Để đơn giản hóa, thông thoáng cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm công tác quản lý, kiến nghị sửa đổi quy định về nhập khẩu thiết bị in như sau:

      Cần quy định rõ hình thức CẤP PHÉP NHẬP KHẨU (dịch vụ công mức 4) đối với thiết bị ĐỦ ĐIỀU KIỆN (có thể là niên hạn, loại công nghệ, công năng, v,v...) như đã thực hiện trước khi có Nghị định số 25 để bảo đảm thống nhất với Nghị định số 69/2018/NĐ-CP, hoặc cắt giảm mạnh mẽ hơn thì chỉ cần quy định thiết bị ĐỦ ĐIỀU KIỆN mới được nhập khẩu (mà không cấp cấp giấy phép như hiện nay)

      

        

 


- 1 tháng trước
Người gửi: do van quy
Email:quy2233@hotmail.com

Kính gửi Bộ Thông tin và Truyền thông

Nghị định 60 đã sửa đổi 1 lần bằng Nghị định 25 rồi. Nay sửa cùng lúc 02 Nghi dịnh (60 và 25) nên xem dự thảo Nghị định mới rất phức tạp, rắm rối, khó hiểu, loằng ngoằng. Đề nghị xây dựng nghị định mới thay thế để gỡ khó cho người dân và doanh nghiệp in khi nghiên cứu pháp luật để còn dễ thực thi.


- 2 tháng trước

 

Dự thảo 1

 

 

 
NGHỊ ĐỊNH
Sửa đổi, bổ sung một số điềucủa các Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in và Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in
 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in và Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in.
 
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 2 như sau:
“4. Sản phẩm in quy định tại Nghị định này là sản phẩm có phần tử in được tạo ra bằng các công nghệ, máy móc, thiết bị ngành in, bao gồm:
a) Báo, tạp chí và các ấn phẩm báo chí khác theo quy định của pháp luật về báo chí;
b) Mẫu, biểu mẫu dưới dạng tờ rời, tờ gấp hoặc đóng thành sổ, tập;
c) Tem chống giả;
d) Hóa đơn, biên lai, biên nhận, phiếu thu, phiếu chi, ủy nhiệm chi, phiếu xuất kho, phiếu nhập kho; các loại thẻ, giấy tờ có sẵn mệnh giá hoặc dùng để ghi mệnh giá;
e) Bao bì; tem, nhãn hàng hóa;
g) Văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân; hộ chiếu, visa, căn cước công dân, chứng minh thư; đơn, tờ khai, giấy phép, giấy chứng nhận, giấy đăng ký, giấy xác nhận, giấy xác thực, giấy chứng thực, giấy kiểm định, giấy mời, giấy triệu tập, thông báo, chứng thư; biên bản; hợp đồng; các loại giấy tờ phục vụ khám, chữa bệnh; lý lịch, sơ yếu lý lịch; danh thiếp, thiếp, thiệp, thư; huân chương, huy chương, bằng khen, giấy khen; tập kẻ, vở viết (bao gồm cả đóng thành sổ), giấy thi, giấy kiểm tra; phù hiệu, nhãn hiệu; biển tên; các loại giấy tờ ghi nhận công đức, từ thiện; vàng mã.
h) Sách, sổ, tài liệu hướng dẫn sử dụng, giới thiệu, quảng cáo thiết bị, công cụ sản xuất và hàng hóa, dịch vụ; áp-phích, tờ rời, tờ gấp, catalogue (ca-ta-lô), băng rôn, khẩu hiệu, backdrop (bách-rốp), biển quảng cáo không có nội dung xuất bản phẩm quy định tại Luật Xuất bản”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 2 như sau:
“6. Cơ sở in là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trực tiếp thực hiện đầy đủ hoặc từng công đoạn, chế bản, in, gia công sau in.”
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 2 như sau:
“7. Cơ sở dịch vụ photocopy là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trực tiếp cung cấp dịch vụ photocopy.”
4. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 9 như sau:
“d) Thông tin sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, danh nhân, anh hùng dân tộc; sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân.”
5. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 9 như sau:
“6. Nhập khẩu, sử dụng thiết bị in trái quy định tại Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”
6. Sửa đổi, bổ sung tên Điều, khoản 3, khoản 5 và bổ sung thêm khoản 11 Điều 15 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều 15 như sau:
“Điều 15: Trách nhiệm của cơ sở in và bên đặt in”
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“In và gia công sau in đúng với số lượng ghi trong hợp đồng hoặc phiếu đặt in.”.
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:
“5. Lưu giữ đầy đủ hồ sơ liên quan đến sản phẩm nhận chế bản, in, gia công sau in trong 24 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng in hoặc phiếu đặt in đối với các sản phẩm in được quy định tại khoản 4 Điều 2. Hồ sơ phải lưu giữ gồm có:
a) Bản chính hợp đồng chế bản, in, gia công sau in hoặc phiếu đặt in quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định này;
b) Sản phẩm in có dấu hoặc chữ ký của bên đặt in được lưu giữ theo một trong các dạng: Bản giấy; bản điện tử (bản chụp hoặc scan) là tệp tin được chứa trong đĩa CD, đĩa CD-ROM, USB, ổ cứng hoặc các thiết bị lưu trữ dữ liệu khác;
c) Giấy tờ liên quan đến sản phẩm đặt in quy định tại các Điều 17, 19, 20 và 22 Nghị định này;
d) Lập sổ ghi chép, quản lý ấn phẩm nhận chế bản, in, gia công sau in theo mẫu quy định bằng bản giấy hoặc bản điện tử và phải ghi đầy đủ thông tin của ấn phẩm nhận chế bản, in, gia công sau in vào sổ.
d) Bổ sung thêm khoản 11 vào sau khoản 10 như sau:
“11. Trách nhiệm bên đặt in
a) Bên đặt in phải thực hiện đầy đủ và cung cấp các giấy tờ liên quan đến sản phẩm đặt in quy định tại Điều 16, Điều 17, Điều 20 và Điều 21.
b) Sau khi nhận sản phẩm in đã hoàn thành phải đóng dấu (nếu là tổ chức có pháp nhân) hoặc ký (nếu là cá nhân hoặc tổ chức không có pháp nhân) lên 01 (một) bản sản phẩm in gửi lại cơ sở in để lưu hồ sơ nhận in.”.
7. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 16 như sau:
“c) Văn bản thể hiện sự đồng ý của người có sản phẩm in trong trường hợp bên đặt in không phải là người có sản phẩm in.”.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 như sau:
“Điều 21. Nhận chế bản, in, gia công sau in, bao bì, nhãn hàng hóa
1. Đối với sản phẩm in là bao bì, nhãn sản phẩm, hàng hóa phải có giấy tờ chứng minh ngành nghề đã đăng ký kinh doanh phù hợp sản phẩm in.
2. Trường hợp sản phẩm in là bao bì, nhãn sản phẩm, hàng hóa là thuốc chữa bệnh, dược phẩm, thực phẩm chức năng ngoài quy định tại khoản 1 Điều này còn phải có giấy tờ chứng minh đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc phê duyệt theo quy định của pháp luật.
9. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 27 như sau:
“1. Thiết bị in sau đây khi nhập khẩu phải khai báo với Bộ Thông tin và Truyền thông:
a) Máy chế bản ghi phim, ghi kẽm, tạo khuôn in;
b) Máy in kỹ thuật số; máy in offset (ốp-xét), flexo (phờ-lếch-xô); ống đồng, letterpress (lét-tơ-pờ-rét), máy in lưới (lụa);
c) Máy dao cắt (xén) giấy, máy gấp sách (gấp giấy), máy đóng sách (đóng thép hoặc khâu chỉ), máy vào bìa, máy kỵ mã liên hợp, dây chuyền liên hợp hoàn thiện sản phẩm in;
d) Máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu.
Việc khai báo nhập khẩu thiết bị in được thực hiện thông qua Cổng thông tin một cửa Quốc gia, kết quả của thủ tục khai báo là hệ thống tự động thông báo việc khai báo thành công, kết quả khai báo thành công là cơ sở để hải quan thực hiện thủ tục thông quan hàng hóa. Trường hợp khai báo mà hệ thống xảy ra lỗi kỹ thuật, không thể thực hiện được thì việc khai báo nhập khẩu thiết bị in được thực hiện bằng bản giấy và có xác nhận của Bộ Thông tin và Truyền thông.
10. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 27 như sau:
3. Giao Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng, ban hành danh mục máy móc, thiết bị ngành in (bao gồm các máy móc, thiết bị có liên quan đến hoạt động in, bao bì). Quy định tiêu chuẩn máy móc, thiết bị đã qua sử dụng được nhập khẩu vào Việt Nam phù hợp với từng giai đoạn phát triển ngành in.”
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 28 như sau:
“Điều 28. Thủ tục khai báo nhập khẩu thiết bị in
1. Trước khi nhập khẩu, tổ chức, cá nhân phải khai báo nhập khẩu thiết bị in gửi đến Bộ Thông tin và Truyền thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.
2. Hồ sơ khai báo nhập khẩu thiết bị in:
Chỉ khai báo thông tin thiết bị in nhập khẩu trực tiếp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia. Trường hợp phải khai báo bằng bản giấy thì thực hiện theo mẫu ban hành tại Nghị định này;”
3. Kết quả khai báo thành công trên hệ thống Cổng thông tin một cửa quốc gia là cơ sở để hải quan thực hiện thủ tục thông quan hàng hóa. Trường hợp không thông quan hàng hóa phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
Trường hợp khai báo bằng bản giấy thì trong thời gian 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tờ khai báo nhập khẩu thiết bị in, Bộ Thông tin và Truyền thông phải cấp giấy xác nhận nhập khẩu thiết bị in.Trường hợp không cấp giấy xác phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
12. Sửa đổi, bổ sung Điều 29 như sau:
“Điều 29. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nhập khẩu thiết bị in
1. Nhập khẩu đúng với nội dung ghi trong tờ khai báo nhập khẩu thiết bị in.
2. Tuân thủ quy định về nhập khẩu thiết bị in tại Nghị định này và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc nhập khẩu thiết bị in.”
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 1 như sau:
“1. Nghị định này quy định: Điều kiện hoạt động của cơ sở in, dịch vụ sao chụp (photocopy), chế bản, in, gia công sau in các sản phẩm in; nhập khẩu và sử dụng thiết bị ngành in; sản phẩm in; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Hoạt động chế bản, in, gia công sau in xuất bản phẩm, tiền và các sản phẩm in không quy định tại khoản 4 Điều 2 không thuộc phạm vi điều chỉnh tại Nghị định này.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 1 như sau:
“3. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 4 Điều 8 như sau:
a). Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
          “1. Cơ sở in có trách nhiệm báo cáo định kỳ 01 lần/năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động in”
b). Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Chủ thể, thời hạn, hình thức và cách thức thực hiện báo cáo:
a)     Chủ thể thực hiện chế độ báo cáo và nơi nhận báo cáo
Cơ sở chế bản, in, gia công sau in thuộc các Bộ, cơ quan, tổ chức trung ương phải báo cáo bằng văn bản theo mẫu quy định với Bộ Thông tin và Truyền thông; cơ sở chế bản, in, gia công sau in khác phải báo cáo bằng văn bản theo mẫu quy định với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
b) Hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thống kê, tổng hợp tình hình hoạt động in; công tác quản lý nhà nước về hoạt động in, photocopy tại địa phương và báo cáo bằng văn bản theo mẫu quy định với Bộ Thông tin và Truyền thông;
c) Số liệu báo cáo tính từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm báo cáo;
d) Thời hạn gửi báo cáo: Đối với chủ thể quy định tại điểm a khoản này gửi báo cáo chậm nhất vào ngày 10 tháng 01 của năm liền kề năm báo cáo; đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi báo cáo chậm nhất vào ngày 15 tháng 01 của năm liền sau năm báo cáo;
đ) Hình thức và cách thức gửi báo cáo: Báo cáo được thể hiện dưới hình thức văn bản có đóng dấu, chức ký của thủ trưởng cơ quan, tổ chức; báo cáo gửi qua đường bưu chính, nộp trực tiếp, qua hệ thống điện tử trực tuyến, qua thư điện tử (e-mail); trường hợp gửi qua đường điện tử, văn bản báo cáo phải là các tệp tin có định dạng Word hoặc Excel và kèm định dạng Pdf được quét (scan) từ văn bản giấy để so sánh, đối chiếu, bảo đảm tính chính xác của thông tin báo cáo.
Trường hợp có hệ thống báo cáo điện tử trực tuyến thì phải thực hiện báo cáo theo hệ thống điện tử trực tuyến”.”
3. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 5 Điều 1 như sau:
“a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Trước khi hoạt động, cơ sở in thực hiện chế bản, in, gia công sau in các sản phẩm quy định tại điểm a và điểm c khoản 4 Điều 2 Nghị định này phải có hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động in gửi đến cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động in theo quy định sau đây:
a) Cơ sở in thuộc các Bộ, cơ quan, tổ chức trung ương gửi hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc dịch vụ bưu chính, chuyển phát hoặc nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ Thông tin và Truyền thông. Trường hợp hồ sơ gửi qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến phải đảm bảo tính pháp lý theo quy định của pháp luật về chữ ký số và các quy định liên quan.
b) Cơ sở in khác gửi hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc dịch vụ bưu chính, chuyển phát hoặc nộp hồ sơ trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp hồ sơ gửi qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến phải đảm bảo tính pháp lý theo quy định của pháp luật về chữ ký số và các quy định liên quan.
Trường hợp chi nhánh của cơ sở in đặt ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác ngoài tỉnh, thành phố đặt trụ sở chính thì địa phương nơi cơ sở in đặt trụ sở chính cấp phép (ghi địa chỉ các chi nhánh lên giấy phép nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật). Đối với cơ sở in do Trung ương cấp phép cũng thực hiện tương tự (ghi địa chỉ các chi nhánh lên giấy phép nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật)””
4. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 5 Điều 1 như sau:
“d) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động in phải cấp giấy phép và cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động in; trường hợp không cấp giấy phép phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do. Sau khi cấp giấy phép, cơ quan cấp phép phải gửi bản sao giấy phép cho cơ quan quản lý nhà nước ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cơ sở in đặt chi nhánh (bao gồm cả trụ sở chính đối với cơ sở in do trung ương cấp giấy phép) để phối hợp quản lý.
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép của cơ sở in không đầy đủ thông tin, thông tin không trung thực hoặc không thể hiện việc đáp ứng đầy đủ điều kiện hoạt động quy định tại Điều 11 Nghị định này bị từ chối nhận hồ sơ cấp phép.
Cơ sở in được cấp giấy phép hoạt động in không phải đăng ký hoạt động theo quy định tại Điều 14 Nghị định này khi in các sản phẩm thuộc loại phải đăng ký. Trường hợp cơ sở in đề nghị cấp phép hoạt động in các sản phẩm quy định tại Nghị định này, đồng thời đề nghị cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm mà cơ sở in có đủ điều kiện theo quy định của Luật Xuất bản thì cấp chung trên một giấy phép.””
5. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 7 Điều 1 như sau:
“a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 như sau:
“1. Cơ sở in thực hiện chế bản, in, gia công sau in sản phẩm in thuộc điểm b, d, e, g và h khoản 4 Điều 2 Nghị định này phải đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động in.
2. Trước khi hoạt động 15 ngày, cơ sở in phải gửi 02 tờ khai đăng ký hoạt động cơ sở in theo mẫu quy định đến cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động in theo quy định sau đây:
a) Cơ sở in thuộc các Bộ, cơ quan, tổ chức trung ương gửi hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc dịch vụ bưu chính, chuyển phát hoặc nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ Thông tin và Truyền thông. Trường hợp hồ sơ gửi qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến phải đảm bảo tính pháp lý theo quy định của pháp luật về chữ ký số và các quy định liên quan.
b) Cơ sở in khác gửi hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc dịch vụ bưu chính, chuyển phát hoặc nộp hồ sơ trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp hồ sơ gửi qua gửi qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến phải đảm bảo tính pháp lý theo quy định của pháp luật về chữ ký số và các quy định liên quan.
Trường hợp chi nhánh của cơ sở in đặt ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác ngoài tỉnh, thành phố đặt trụ sở chính thì địa phương nơi cơ sở in đặt trụ sở chính xác nhận đăng ký (ghi địa chỉ các chi nhánh lên tờ khai đăng ký hoạt động cơ sở in nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật). Đối với cơ sở in do Trung ương xác nhận cũng thực hiện tương tự (ghi địa chỉ các chi nhánh lên tờ khai nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật). Gửi bản sao cho địa phương nơi cơ sở in đặt chi nhánh để phối hợp quản lý””
6. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 9 Điều 1 như sau:
“b) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 như sau:
b) Giấy tờ liên quan đến sản phẩm nhận in theo quy định tại các Điều 17, 20 và 21 Nghị định này.”
7. Sửa đổi, bổ sung khoản 17 Điều 1 như sau:
“17. Sửa đổi khoản 2, khoản 3, và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 30 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 3 như sau:
“2. Đối với máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu phải khai báo trước khi sử dụng.
Tổ chức, cá nhân phải gửi hồ sơ khai báo máy qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc dịch vụ bưu chính, chuyển phát hoặc nộp hồ sơ trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
3. Hồ sơ khai báo sử dụng máy photocopy màu, máy in có chức năng photocopy màu tờ khai báo sử dụng máy theo mẫu quy định;”
b) Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 như sau:
“5. Thanh lý máy
Tổ chức, cá nhân sử dụng máy đã khai báo, khi thanh lý phải có văn bản thông báo đến cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động in nơi đã khai báo máy.”
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 3 như sau:
“Điều 3. Bãi bỏ một số quy định của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in
Bãi bỏ các điểm đ khoản 4 Điều 2; khoản 5 Điều 9; điểm a, d, e khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 11; các điểm c, d, đ khoản 2 và khoản 4 Điều 12; điểm b khoản 2 Điều 13; khoản 6 Điều 14; điểm a, c khoản 2 Điều 16; các Điều 18, 19 và 24; khoản 5 Điều 25; khoản 2 Điều 27; khoản 4 Điều 30; khoản 1 và khoản 4 Điều 32.”
Điều 3. Bãi bỏ một số điểm, khoản tại Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in.
Bãi bỏ khoản 8, khoản 10, khoản 15, khoản 16 Điều 1 và Điều 2 Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP.
Điều 4. Ban hành mẫu, biểu mẫu
Ban hành kèm theo Nghị định này 15 mẫu, biểu mẫu gồm: Đơn, tờ khai, danh mục, giấy phép, giấy xác nhận, sổ, báo cáo để thực hiện thủ tục hành chính và các chế độ thông tin báo cáo trong hoạt động in.
Điều 5. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày …. tháng …. năm 2022.
Điều 6. Quy định chuyển tiếp
1. Tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị in trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà chưa hoàn thành thủ tục nhập khẩu được tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động inNghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in.
2. Bãi bỏ các quy định về nhập khẩu thiết bị in đã ban hành trái với quy định tại Nghị định này (trừ trường hợp có quy định tại văn bản Luật).