Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ hai, ngày 26/02/2024

Tổng hợp hỏi đáp Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Nguyễn Thị Đào - Duy Tiên, Hà Nam
acchsm3@hashima.co.jp

Kính gửi bộ thông tin và truyền thông,

Hiện nay, công ty tôi đang gặp phải vấn đề liên quan đến xác định mặt hàng nhập khẩu là thiết bị điện tử chuyên dùng. Công ty chúng tôi có nhập khẩu mặt hàng là máy trải vải tự động từ Nhật Bản nhưng không xác định được mặt hàng này có phải là thiết bị điện tử chuyên dùng không để khai thuế GTGT. Vì theo như chúng tôi tìm hiểu, thiết bị điện tử trong ngành Tự động hóa bao gồm cảm biến, thiết bị đóng cắt, rơ le, biến tần, servo motor, bộ lập trình PLC, màn hình HMI, contactor, bộ nguồn. Trong khi đó máy trải vải tự động cấu tạo từ nhiều linh kiện và thiết bị khác nhau. Chúng tôi nhập khẩu nguyên máy trải vải tự động như vậy thì mặt hàng này có phải là thiết bị điện tử chuyên dùng hay không. Theo như công văn 4262/TCHQ-TXNK về việc thuế GTGT hàng nhập khẩu đối với thiết bị điện tử chuyên dùng có nêu rằng: Trường hợp Công ty có vướng mắc trong việc xác định mặt hàng nhập khẩu là thiết bị điện tử chuyên dùng thì liên hệ với cơ quan chuyên ngành là Bộ thông tin và truyền thông để được hướng dẫn cụ thể.

Rất mong nhận được câu trả lời từ Bộ thông tin và truyền thông để doanh nghiệp nắm rõ và thực hiện.

Xin chân thành cảm ơn!

- 2 ngày trước
Trả lời:

Phúc đáp ý kiến của của Quý doanh nghiệp về việc xác định hàng hóa công nghệ thông tin, Cục Công nghiệp công nghệ thông tin và Truyền thông - Bộ Thông tin và Truyền thông có ý kiến như sau:

- Theo quy định tại khoản 11 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin, thiết bị điện tử là một loại thiết bị số được sử dụng để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.

- Theo quy định tại Nghị định số 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin và Thông tư số 09/2013/TT-BTTTT ngày 08/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Danh mục sản phẩm phần mềm và phần cứng, điện tử thì thiết bị điện tử chuyên dùng là thiết bị điện tử dùng trong các lĩnh vực chuyên ngành như y tế, giao thông và xây dựng, tự động hóa, sinh học, địa chất và môi trường, điện tử và lĩnh vực khác.

Qua mô tả sơ bộ ban đầu của mặt hàng nhập khẩu của Công ty là máy trải vải tự động. Như vậy, chức năng của sản phẩm này là dùng để trải vải với tính năng tự động hóa; không thực hiện chức năng chính là của thiết bị điện tử được nên tại khoản 11 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin như trên. Theo đó, đề nghị Quý doanh nghiệp đối chiếu tính năng kỹ thuật chính của sản phẩm với mô tả chức năng thiết bị số nêu trên để làm việc với cơ quan chức năng liên quan thống nhất phân loại sản phẩm và áp dụng thực hiện.

Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin và Truyền thông - Bộ Thông tin và Truyền thông trân trọng thông báo để Doanh nghiệp biết tham khảo áp dụng phân loại sản phẩm phù hợp theo quy định pháp luật./

Độc giả: Hà Văn Cảnh - 304 Trần Hưng Đạo, TP Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh
Canhhv1122@gmail.com

 Xin kính chào quý Bộ !

Tôi có câu hỏi nhờ quý Bộ giải đáp giúp như sau: Theo quy định tại khoản 4, điều 2 Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2014 sử đổi bởi Nghị định số 25/2018/NĐ-CP và Nghị định số 72/2022/NĐ-CP thì:

4. Sản phẩm in là sản phẩm được tạo ra bằng công nghệ, thiết bị ngành in trên các loại vật liệu khác nhau, bao gồm:

a) Báo, tạp chí và các ấn phẩm báo chí khác theo quy định của pháp luật về báo chí;
b) Mẫu, biểu mẫu giấy tờ do cơ quan nhà nước ban hành;
c) Tem chống giả;
d) Hóa đơn tài chính, các loại thẻ, giấy tờ có sẵn mệnh giá hoặc dùng để ghi mệnh giá (không bao gồm tiền);
e) Bao bì, nhãn hàng hóa;
g) Mẫu, biểu mẫu, giấy tờ, sách, sổ, tài liệu hướng dẫn sử dụng, giới thiệu, quảng cáo thiết bị, công cụ sản xuất, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; áp-phích, tờ rời, tờ gấp không phải là xuất bản phẩm theo quy định của Luật Xuất bản.
h) Các sản phẩm in khác.
Chúng tôi là doanh nghiệp sản xuất Bản mạch in, sản xuất Kính mắt, Vỏ bằng thép của máy nay Công ty chúng tôi có nhập một số loại Máy in sử dụng một trong các công nghệ (thuộc mã HS 84.43): Kỹ thuật số, ốp-xét (offset), flexo, ống đồng, letterpress, máy in lưới (lụa);.. là loại được chế tạo dùng để in lên Bản mạch FPCB, in lên Gọng Kính, in lên vỏ thép của máy ,...về để chính doanh nghiệp chúng tôi sử dụng.
Đối chiếu với quy định về các sản phẩm in như quy định trên thì chúng tôi muốn hỏi khi chúng tôi nhập một số loại máy in như trên về để in lên các sản phẩm đặc biệt như liệt kê bên trên thì có thuộc trường hợp phải khai báo nhập khẩu thiết bị in hay không ?
Kính mong quý Bộ hướng dẫn sớm để doanh nghiệp hiểu đúng và tuân thủ quy định của pháp luật !
Xin chân thành cám ơn !
- 18 ngày trước
Trả lời:

Theo mô tả về sản phẩm của công ty thực hiện sản xuất thì sản phẩm của công ty thuộc quy định tại điểm h khoản 4 Điều 2 Nghị định số 60/2014 NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 được sửa đổi bởi điểm b, khoản 1, Điều 1 Nghị định số 72/2022/NĐ-CP ngày 04/10/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 và Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 của Chính phủ quy định về hoạt động in thì các Máy in sử dụng một trong các công nghệ (thuộc mã HS 84.43): Kỹ thuật số, ốp-xét (offset), flexo, ống đồng, letterpress, máy in lưới (lụa) thuộc các thiết bị phải khai báo với Bộ Thông tin và Truyền thông trước khi nhập khẩu.

Độc giả: Phạm Thái Ninh - Khu Công nghiệp Đồng Văn I, Phường Đồng Văn, Thị xã Duy Tiên, Tỉnh Hà Nam
thaininhtb@gmail.com

Kính gửi bộ phận tư vấn!

Chúng tôi có 01 lô hàng nhập khẩu, hàng hóa là hàng tạm nhập- tái xuất để phục vụ cho việc sản xuất hộp bằng giấy dùng để đựng trang sức, tên hàng như sau: " Máy sản xuất hộp giấy dùng để đựng trang sức, model: CZ-JHJ450, điện áp 220V, 60Hz, công suất 2.1kW, năm sx 2021, nhà sx:Shenzhen Chuanzheng Automation Technology Co.,LTD, Hàng đã qua sử dụng"

Khi chúng tôi thực hiên thủ tục hải quan thì phía chi cục hải quan yêu cầu chúng tôi phải xin: "Giấy xác nhận khai báo nhập khẩu thiết bị in". Chi cục phản hồi là căn cứ theo quy định tại nghị định 72/2022/NĐ-CP ngày 04/10/2022 sửa đổi bổ sung 1 số điều của nghị định 60/2014/NĐ-CP ngày 19/06/2014.

Chúng tôi đã tiến hành xin giấy phép TẠM NHẬP-TÁI XUẤT của Bộ Công Thương theo quy định tại a, khoản 1 điều 15 của nghị định 69/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018. 

Câu hỏi:

- Chúng tôi đã xin giấy phép tạm nhập - tái xuất của Bộ Công Thương heo quy định tại a, khoản 1 điều 15 của nghị định 69/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 rồi thì chúng tôi có phải xin thêm "Giấy xác nhận khai báo nhập khẩu thiết bị in" theo quy định tại nghị định 72/2022/NĐ-CP ngày 04/10/2022 sửa đổi bổ sung 1 số điều của nghị định 60/2014/NĐ-CP ngày 19/06/2014 nữa hay không ạ?

Cảm ơn bộ phận tư vấn, rất mong sớm nhận được tư vấn trả lời của bộ phận tư vấn ạ!

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

- 18 ngày trước
Trả lời:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 được sửa đổi bởi điểm b, khoản 1, Điều 1 Nghị định số 72/2022/NĐ-CP ngày 04/10/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 và Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 của Chính phủ quy định về hoạt động in thì máy làm hộp giấy là thiết bị gia công sau in (hoạt động bằng điện, thuộc mã HS 84.40, 84.41) thuộc các thiết bị phải khai báo với Bộ Thông tin và Truyền thông trước khi nhập khẩu. Vì vậy, công ty cần phải khai báo thiết bị trên với Bộ Thông tin và Truyền thông trước khi nhập khẩu.

Độc giả: Nguyễn văn A - Hà Nội
A@gmail.com

 Quy trình cấp phép bưu chính như thế nào ?

- 18 ngày trước
Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 8 Nghị định số 47/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Luật bưu chính và khoản 6 Điều 1 Nghị định số 25/2022/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2022 ủa Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 47/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Luật Bưu chính, quy trình cấp giấy phép bưu chính như sau:

Bước 1: Doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp giấy phép bưu chính theo quy định và nộp hồ sơ về Bộ Thông tin và Truyền thông.

- Nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở Bộ Thông tin và Truyền thông, số 18 Nguyễn Du, Hai Bà Trưng, Hà Nội, hoặc;

- Nộp trực tuyến qua cổng dịch vụ công: Cổng dịch vụ công của Bộ Thông tin và Truyền thông (http://dichvucong.mic.gov.vn) hoặc Cổng Dịch vụ công Quốc gia (https://dichvucong.gov.vn), hoặc;

- Nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính tới Bộ Thông tin và Truyền thông, số 18 Nguyễn Du, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Bước 2: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Thông tin và Truyền thông từ chối cấp giấy phép bưu chính đối với trường hợp không đúng thẩm quyền và nêu rõ lý do.

Bước 3:

- Trong thời hạn 20 ngày, Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện cấp giấy phép bưu chính đối với trường hợp hồ sơ đã đầy đủ, đúng quy định, trường hợp hồ sơ chưa đáp ứng quy định thì Bộ Thông tin và Truyền thông thông báo cho doanh nghiệp thực hiện sửa đổi, bổ sung.

- Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày thông báo, doanh nghiệp có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu.

Trường hợp doanh nghiệp không sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu hoặc có sửa đổi, bổ sung nhưng chưa đạt yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông ra thông báo từ chối cấp giấy phép bưu chính và nêu rõ lý do.

- Các thông báo của Bộ Thông tin và Truyền thông được thực hiện bằng văn bản và qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến.

- Kết quả giải quyết thủ tục cấp giấy phép bưu chính được trả trực tiếp, trực tuyến hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích.

Độc giả: Ngô Quang Hiếu - Ấp Bình Thạnh, xã Tam Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
hieuquang16096@gmail.com

Tôi là người dân của xã Tam Bình, huyện Cai Lậy, Tiền Giang. Mấy tháng trước xã cho lắp gần nhà tôi cụm 4 loa phát thanh trên cột điện ven đường bê tông gần sát nhà nhiều người dân, trong đó có nhà tôi (cách chỉ khoảng 50m). Và tôi được biết còn gắn nhiều nơi khác trong ấp cũng như các ấp khác trong xã. Kể từ đó thay thế sự yên bình vốn có là sự ồn ào, huyên náo khi chỉ 4h50, 4h55 loa đã phát khiến chẳng ai có thể ngủ thêm được chút nào và đều phải dậy giờ đó trong khi có nhiều người phải đi làm đêm, làm khuya về muộn (ở các vựa trái cây), những em học sinh phải thức khuya học bài, trẻ nhỏ và người già cũng cần ngủ đủ giấc để đảm bảo sức khoẻ. Đáng nói là 30 phút đầu là phát lại nội dung phát thanh của huyện đã phát lúc 17h chiều ngày hôm trước, chúng tôi đã được nghe. Vậy mà mới chỉ 4h50, 4h55 chúng tôi đã phải thức để "được" nghe lại. Vị trí các trạm cũng khá gần nhau (bán kính chưa tới khoảng 2km) đến nỗi từ nhà tôi vẫn có thể nghe được đến 3 vị trí phát khác. Cuộc sống yên bình vốn có từ khi những chiếc loa xuất hiện đã bị đảo lộn rất nhiều. Chất lượng cuộc sống cũng bị ảnh hưởng.

Vậy xin hỏi vị trí đặt loa như gần nhà dân thay vì chợ, trụ sở, uỷ ban....nơi có nhiều người tập trung sinh hoạt sớm như vậy có thật sự hợp lý? Và sự cần thiết của nó khi đặt loa ở nhiều nơi như vậy trong thời buổi ai cũng có thể tiếp cận thông tin dễ dàng, số hoá truyền hình nhà ai cũng có thể theo dõi kênh truyền hình tỉnh nhà với chất lượng HD sắc nét và cũng chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh là từ người trẻ đến người già đều có thể tiếp cận tin tức dễ dàng.

Xin cảm ơn.

- 20 ngày trước
Trả lời:

 Liên quan đến câu hỏi của độc giả, Bộ TT&TT trả lời như sau:

1. Hiện tại, hoạt động phát thanh, truyền thanh của đài truyền thanh cấp xã được quy định tại Mục 1, Chương II của Quyết định số 52/2016/QĐ-TTg ngày 06/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động thông tin cơ sở.

Về thời gian phát trong ngày, trong tuần, thời lượng phát mỗi buổi và mức âm lượng cho phép được quy định tại Điều 8 của Quyết định số 52/2016/QĐ-TTg ngày 06/12/2016: “Ủy ban nhân dân cấp xã quy định cụ thể nội dung chương trình, thời điểm, địa điểm, thời lượng, âm lượng phát thanh, truyền thanh phù hợp với đặc điểm riêng có của từng địa phương, cơ sở; bảo đảm các yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu của hệ thống thông tin cơ sở; đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân trên địa bàn; phù hợp với quy định tại Quy chế này và các quy định của pháp luật có liên quan”.

2. Về thời gian, thời lượng của đài truyền thanh xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Tiền Giang được thực hiện theo quy định tại Điểm 1, Điều 7, Chương II của Quyết định số 04/2022/QĐ-UBND ngày 22/01/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.

3. Đối với kiến nghị của công dân, Cục Thông tin cơ sở cũng đã có văn bản gửi Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Tiền Giang để tổ chức kiểm tra, xác minh và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

 

Độc giả: Nguyễn Nam Thành - Lộc Ninh - Bình Phước
namthanh19991999@gmail.com

Cho tôi hỏi. tôi đang hưởng ngạch V.05.02.07 (kỹ sư 10 năm rồi). Tôi học đại học chuyên ngành công nghệ thông tin và có bằng trung cấp phát thanh - truyền hình chuyên ngành điện tử - truyền thông. Tôi đã học chuẩn chức danh nghề nghiệp Âm thanh viên hạng 3. Nay theo quy đinh trả lương theo vị trí việc làm. Vậy tôi có xin chuyển qua ngạch âm thanh viên được không  (V11.09.25). 

- 23 ngày trước
Trả lời:

Liên quan đến câu hỏi của độc giả, Bộ TT&TT  trả lời như sau:

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01/10/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ quy định về mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ và thông tin độc giả cung cấp hiện độc giả đang giữ chức danh nghề nghiệp kỹ sư (hạng III) (mã số V.05.02.07). Việc độc giả muốn chuyển chức danh nghề nghiệp từ kỹ sư (hạng III) (mã số V.05.02.07) sang chức danh nghề nghiệp âm thanh viên hạng III (mã số V11.09.25) áp dụng hình thức xét chuyển chức danh nghề nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức và sẽ thực hiện được khi độc giả đáp ứng các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 30 Nghị định số 115/2020/NĐ-CP nói trên, cụ thể như sau:

1. Việc xét chuyển chức danh nghề nghiệp được thực hiện khi viên chức thay đổi vị trí việc làm mà chức danh nghề nghiệp đang giữ không phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm mới.

2. Viên chức được xét chuyển chức danh nghề nghiệp phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp được chuyển theo quy định của pháp luật và của Bộ TTTT (Thông tư số 07/2022/TT-BTTTT ngày 30/6/2022 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 46/2017/TT-BTTTT ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức âm thanh viên, phát thanh viên, kỹ thuật dựng phim, quay phim thuộc chuyên ngành thông tin và truyền thông; Thông tư số 46/2017/TT-BTTTT ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức âm thanh viên, phát thanh viên, kỹ thuật dựng phim, quay phim thuộc chuyên ngành thông tin và truyền thông).