Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ ba, ngày 19/10/2021

Tổng hợp hỏi đáp Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Nguyễn Thị Ngọc Phương - Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội
phuongnguyen@gempages.help

Kính gửi: Bộ Thông tin và Truyền thông,

Tôi hiện đang làm việc tại doanh nghiệp Việt Nam sản xuất phần mềm. Doanh nghiệp này thành lập được 2 năm và sản phẩm là ứng dụng phần mềm quản trị website trong lĩnh vực thương mại điện tử. Tôi được biết là theo thông tư mới TT 13/2020 của Bộ TT&TT, các doanh nghiệp sản xuất phần mềm sẽ cần phải tài liệu hoá các công đoạn sản xuất phần mềm và báo cáo lên Bộ TT&TT. Qua kênh Hỏi đáp này, tôi rất mong nhận được sự hướng dẫn cụ thể cho các vấn đề sau:

1. Nếu công ty đáp ứng được các công đoạn sản xuất phần mềm thì hồ sơ đề xuất ưu đãi thuế cho hoạt động sản xuất phần mềm sẽ gồm những gì và cách thức nộp. Trước khi thông tư 13 ra đời thì các doanh nghiệp vẫn đang gửi công văn lên cơ quan thuế quản lý để giải đáp về ưu đãi. doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về tài liệu sản xuất phần mềm. 

2. Khi có thay đổi trong các công đoạn sản xuất phần mềm thì việc cập nhật thông tin với Bộ TT&TT được thực hiện theo mẫu biểu như thế nào và cách thức, thời hạn nộp báo cáo.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

- 4 ngày trước
Trả lời:

 1. Về hồ sơ đề xuất ưu đãi thuế cho hoạt động sản xuất phần mềm được quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 5 Thông tư số 13/2020/TT-BTTTT. Cụ thể Điểm a, Khoản 2, Điều 5 quy định: “Tự chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin trong hồ sơ đề xuất ưu đãi thuế cho hoạt động sản xuất phần mềm và tự xác định hoạt động sản xuất phần mềm đáp ứng quy trình”. Hiện nay Bộ Thông tin và Truyền thông không có quy định yêu cầu doanh nghiệp cần phải gửi hồ sơ để xác nhận là Doanh nghiệp sản xuất phần mềm.

Đối với tài liệu, hồ sơ giải trình chứng minh hoạt động sản xuất phần mềm đáp ứng quy trình: doanh nghiệp tham khảo trên trang Makeinvietnam.mic.gov.vn, Mục Tin tức/ Hỗ trợ doanh nghiệp.

2. Việc gửi, cập nhật thông tin về công đoạn trong hoạt động sản xuất phần mềm đáp ứng quy trình được quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 5 Thông tư số 13/2020/TT-BTTTT. Cụ thể  Điểm b, Khoản 2, Điều 5 quy định “Gửi, cập nhật thông tin về sản phẩm phần mềm, công đoạn trong hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm đáp ứng quy trình, mức thuế  được khấu trừ về Bộ Thông tin và Truyền thông (Vụ Công nghệ thông tin) để tổng hợp”.

Đối với thời điểm, tần suất, hình thức doanh nghiệp hoạt động sản xuất phần mềm cần gửi, cập nhật thông tin về Bộ Thông tin và Truyền thông, doanh   nghiệp   tham   khảo   trên   trang Makeinvietnam.mic.gov.vn, Mục Tin tức/ Hỗ trợ doanh nghiệp.

Đối với biểu mẫu báo cáo tình hình hoạt động sản xuất phần mềm, doanh nghiệp tham khảo trên trên trang Makeinvietnam.mic.gov.vn, Mục Biểu mẫu.

Độc giả: Trần Toàn - Tân Tạo, Bình Tân, TP Hồ Chí Minh
chungcuanquang@gmail.com

Kính gửi Bộ TT&TT

Tôi tiếp nhận hợp đồng có chữ ký số do FPT cấp chứng thư. Tôi có các vấn đề thắc mắc như sau:

1. Chứng thư không đủ nội dung theo quy định Điều 5 Nghị định 130 (10 nội dung) và bằng Tiếng Anh, vậy chứng thư này đúng quy định pháp luật không?, cụ thể không có:
    7. Các hạn chế về mục đích, phạm vi sử dụng của chứng thư số.
    8. Các hạn chế về trách nhiệm pháp lý của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký 

2. Theo yêu cầu điểm b khoản 1 Điều 79 NĐ 130, người nhận phải kiểm tra thông tin sau: "Chữ ký số phải được tạo bởi khóa bí mật tương ứng với khóa công khai trên chứng thư số của người ký". Tuy nhiên, Tôi không hề thấy "khóa bí mật" trên chữ ký số, kể cả chữ ký số của các Đơn vị cung cấp khác mà chỉ có khóa công khai nhưng trên Chứng thư không phải chữ ký số. Cho hỏi quy định này, trên thực tế áp dụng kiểm tra ra sau? thực hiện như thế nào khi không có thông tin như yêu cầu của Nghị định.

Rất mong nhận được sự giải đáp để Tôi có thể tiếp nhận chữ ký số đúng quy định pháp luật.

 Xin cám ơn

- 4 ngày trước
Trả lời:

 1. Về “Nội dung của chứng thư số” tại Điều 5 của Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định nội dung của chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, với nội dung mục 7 và 8 trong số các nội dung trên được thể hiện trong chứng thư số như sau:

- Mục 7 “Các hạn chế về mục đích, phạm vi sử dụng của chứng thư số” nằm trong phần Certificate/Details/Extensions Only/Enhanced Key Usage.

- Mục 8 “Các hạn chế về trách nhiệm pháp lý của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số” nằm trong phần Certificate/Details/Extensions Only/Certificate Policies.

Người nhận văn bản có thể truy cập vào đường dẫn được nhà cung cấp công bố để tìm hiểu về trách nhiệm pháp lý của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số, thể hiện trong “Quy chế chứng thực CPS”.

Định dạng chứng thư số tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc tế và được quy định tại Điều 6 “Quy định về các trường thông tin trong chứng thư số của thuê bao” của Thông tư số 04/2019/TT-BTTTT. Việc sử dụng tiếng Anh nhằm mục đích giữ đúng nội hàm, ý nghĩa chuyên môn và đảm bảo các yêu cầu theo quy định Nghị định số 34/2016/NĐ-CP “...Từ ngữ nước ngoài chỉ được sử dụng khi không có từ ngữ tiếng Việt tương ứng để thay thế. Từ ngữ nước ngoài có thể sử dụng trực tiếp nếu là từ ngữ thông dụng, phổ biến...”.

2. Điểm b khoản 1 Điều 79 của Nghị định số 130/2018/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ kiểm tra thông tin của người nhận trước khi chấp nhận chữ ký số của người  ký, như sau: “Chữ ký số phải được tạo bởi khóa bí mật tương ứng với khóa công khai trên chứng thư số của người ký;”.

Về “khóa bí mật” và việc ký số bằng khóa bí mật được quy định tại Điều 3 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, cụ thể:

- Tại khoản 3: “Khóa bí mật” là một khóa trong cặp khóa thuộc hệ thống mật mã không đối xứng, được dung để tạo chữ ký số.

- Tại khoản 5: “Ký số” là việc đưa khóa bí mật vào một chương trình phần mêm để tự động tạo và gắn chữ ký số vào thông điệp dữ liệu.

- Tại khoản 21: “Thiết bị lưu khóa bí mật” là thiết bị vật lý chứa chứng thư số và khóa bí mật của thuê bao.

Theo đó, “khóa bí mật” của chữ ký số phải lưu trữ trong thiết bị lưu trữ chuyên dụng (Thiết bị lưu trữ hiện nay như USB Token được cung cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng). Các thiết bị này đảm bảo rằng khóa bí mật không bị sao chép hay bị virus phá hỏng. Chính vì vậy, khóa bí mật không hiển thị trực tiếp mà người nhận cần kiểm tra bằng các phần mềm đáp ứng theo Thông tư số 22/2020/TT-BTTTTngày 07/9/2020 quy định về yêu cầu kỹ thuật đối với phần mềm ký số và phần mềm kiểm tra chữ ký số.

Trung tâm chứng thứng thực điện tử quốc gia cung cấp đường dẫn kiểm tra chữ ký số hợp lệ đã đáp ứng theo Thông tư số 22/2020/TT-BTTTT, tại mục ký số, cụ thể như sau: https://neac.gov.vn

Độc giả: Nguyễn Trường Giang - 347/27 Huỳnh Văn Bánh, P11, Q.PN, TP.HCM
truonggiangkhpt@yahoo.com.vn

Cho tôi hỏi: Hiệp hội Nhựa TP.HCM có được phép thành lập tạp chí điện tử không? Nếu có thì thủ tục như thế nào? Cảm ơn.

- 6 ngày trước
Trả lời:

Điều kiện cấp giấy phép hoạt động báo chí được quy định tại  Điều 17 Luật Báo chí. Trong đó, việc cấp giấy phép phải phù hợp với quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Theo Quy hoạch Phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 362/QĐ-TTg ngày 03/4/2019, tổ chức hội địa phương không có cơ quan báo chí.

Hiệp hội Nhựa TP. Hồ Chí Minh là tổ chức xã hội nghề nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Do vậy, đến năm 2025 Hiệp hội không thuộc đối tượng  được cấp phép tạp chí.

 

Độc giả: Lê Văn Tấn - Bắc Ninh
cantan1102@gmail.com

Kính gửi Bộ TTTT, hiện nay Bộ TTTT đã có các Thông tư quy định về chức danh nghề nghiệp chuyên ngành TTTT, trong đó quy định các chức danh về lĩnh vực báo chí, xuất bản và truyền hình mà chưa có quy định cụ thể đối với các chức danh làm công tác thông tin, cập nhật dữ liệu điện tử trên Cổng TTĐT. Thực tế, đối với Cổng Thông tin điện tử của các tỉnh là chủ yếu là đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng UBND cấp tỉnh. Phần lớn các Cổng TTĐT cấp tỉnh không phải là cơ quan báo chí nên việc xác định chức danh nghề nghiệp đối với các viên chức công tác tại Cổng TTĐT cấp tỉnh hiện không thể áp theo quy định về chức danh theo lĩnh vực báo chí, xuất bản hoặc truyền hình. Vì vậy, kính đề nghị Quý Bộ hướng dẫn về quy định chức danh nghề nghiệp đối với các vị trí công tác tại Cổng TTĐT cấp tỉnh (là đơn vị sự nghiệp, không phải là cơ quan báo chí).

Trân trọng cảm ơn.

- 6 ngày trước
Trả lời:

Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp thu và nghiên cứu.

Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đang triển khai rà soát, đánh giá việc thực hiện các Thông tư quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Thông tin và Truyền thông đã ban hành để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, đảm bảo bao quát đầy đủ đối tượng thuộc quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông.

 

Độc giả: Ngô Thị Phượng - Thanh Trì, Hà Nội
ngophuong162015@gmail.com

Công ty tôi có mua quyền truy cập của trang web của nhà thầu nước ngoài và bán lại quyền truy cập này có thời hạn (sau đó có thể gia hạn, hoặc ngừng) cho các khách hàng trong nước thì đây có được coi là dịch vụ phần mềm không và dựa trên những căn cứ nào để xác định xác dịch vụ phần mềm.

Trân trọng cảm ơn!

- 10 ngày trước
Trả lời:

Căn cứ xác định dịch vụ phần mềm:

- Khoản 10, Điều 3 của Nghị định 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007 Quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin: Dịch vụ phần mềm là hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ việc sản xuất, cài đặt, khai thác, sử dụng, nâng cấp, bảo hành, bảo trì phần mềm và các hoạt động tương tự khác liên quan đến phần mềm.

- Các loại dịch vụ phần mềm được quy định tại Điểm 3, Điều 9 của Nghị định 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007.

Căn cứ quy định trên, hoạt động mua quyền truy cập của trang Web của nhà thầu nước ngoài và bán lại quyền truy cập này có thời hạn (sau đó có thể gia hạn, hoặc ngừng) cho các khách hàng trong nước không phải là dịch vụ phần mềm.

Độc giả: Nguyễn Đức Khương - khuongnguyen91@gmail.com
khuongnguyen91@gmail.com

Kính gửi: Bộ Thông tin và Truyền thông

Ngày 19/5/2016 Bộ có Công văn số 1619/BTTTT-CNTT gửi Viện Công nghệ thông tin - Đại học Quốc gia Hà Nội về việc thi chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản. Vậy xin hỏi, Chứng chỉ Ứng ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản do Viện Công nghệ thông tin - Đại học Quốc gia Hà Nội cấp năm 2016 có đạt chuẩn không ạ.

Xin trân trọng cảm ơn

- 10 ngày trước
Trả lời:

Công văn số 1619/BTTTT-CNTT ngày 19/5/2016 về việc đào tạo bồi dưỡng kỹ năng CNTT theo Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT tại Thông tư 03/2014/TT-BTTTT. Tại văn bản này, Bộ TTTT ủng hộ việc xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng theo Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT quy định tại Thông tư 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Viện Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội; các yêu cầu, mục tiêu của chương trình đào tạo bồi dưỡng của Viện cơ bản bám theo Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT.

Về việc cấp chứng chỉ ứng dụng CNTT cơ bản do Viện CNTT – Đại học Quốc gia Hà Nội cấp năm 2016 cần phù hợp với quy định tại Thông tư liên tịch số 17/2016/TTLT-BGDĐT-BTTTT và các quy định liên quan khác. Trường hợp chứng chỉ được cấp trước ngày TTLT 17/2016/TTLT-BGDĐT-BTTTT có hiệu lực, căn cứ Khoản 2, Điều 23, Thông tư liên tịch số 17/2016/TTLT-BGDĐT-BTTTT, các chứng chỉ tin học ứng dụng A, B, C đã cấp trước ngày Thông tư có hiệu lực (ngày 10/8/2016) có giá trị sử dụng tương đương với chứng chỉ ứng dụng CNTT cơ bản. Như vậy, các chứng chỉ tin học A, B, C đã cấp trước ngày 10/8/2016 (theo Quyết định số 21/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 03/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình Tin học ứng dụng A, B, C) có giá trị sử dụng tương đương với chứng chỉ ứng dụng CNTT cơ bản.