Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Chủ nhật, ngày 22/05/2022

Số hóa truyền hình mặt đất Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Cao Việt Tiệp - Số điện thoại 0393206287

 

Xin chào Ban Biên tập Cổng TTĐT Bộ TTTT, em muốn hỏi theo quy định về chức danh nghề nghiệp.

 

Theo thông tư số 45/2017/TT-BTTTT, ngày 29/12/2017 QUY ĐỊNH TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP VIÊN CHỨC CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
 
Vậy em muốn hỏi chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh Quản trị viên hệ thống hạng III học ở trường nào ạ
 
Trân trọng.
 
- 2 tháng trước
Trả lời:

Căn cứ Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, Bộ Thông tin và Truyền thông hiện đang xây dựng Thông tư sửa đổi Thông tư 45/2017/BTTTT ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công nghệ thông tin (trong có có sửa đổi nội dung về chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp công nghệ thông tin). Do vậy, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông chưa tổ chức bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp quản trị viên hệ thống. Để biết thêm chi tiết, độc giả có thể liên hệ với Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông, số điện thoại: 02437665959 (số máy lẻ 101).

Độc giả: Vũ Ngọc Vinh - Trực Ninh - Nam Định
ngocvinh@gmail.com

 Bưu điện huyện Trực Ninh-Nam Định không gửi  bưu gửi số EF424850436VN của Ông đến người nhận là  Ông Đặng Hùng Sơn, Cục trưởng Cục phòng chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ-Lô D22 khu đô thị mới Trần Thái Tông-Yên Hòa- Hà Nội,

- 2 tháng trước
Trả lời:

 Ngay sau khi nhận được phản ánh của Ông về việc Bưu điện huyện Trực Ninh-Nam Định không gửi bưu gửi số EF424850436VN của Ông đến người nhận là  Ông Đặng Hùng Sơn, Cục trưởng Cục phòng chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ-Lô D22 khu đô thị mới Trần Thái Tông-Yên Hòa- Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TTTT) đã yêu cầu Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam kiểm tra, giải trình để làm rõ các nội dung phản ánh và xin được trao đổi lại như sau:

           Bưu gửi của Ông gửi ngày 27/3/2020, đến ngày 25/02/2022 Ông có phản ánh trên Cổng dịch vụ công Quốc gia. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 38 Luật Bưu chính 2010 (thời hiệu khiếu nại là 06 tháng kể từ ngày kết thúc thời gian toàn trình của bưu gửi đối với khiếu nại về việc mất bưu gửi, chuyển phát bưu gửi chậm so với thời gian toàn trình đã công bố…), thì việc phản ánh, khiếu nại của Ông đã quá thời hạn theo quy định.

Tuy nhiên, để giải đáp thắc mắc của Ông, Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam đã cố gắng khôi phục lại toàn bộ cơ sở dữ liệu về bưu gửi từ năm 2020 trên hệ thống. Qua kiểm tra, bưu gửi số EF424850436VN của Ông đã được phát đến địa chỉ người nhận ngày 30/3/2020, người nhận có tên là Trang - văn thư cơ quan (thông tin chi tiết phát gửi kèm).

           Bộ Thông tin và Truyền thông xin được trả lời Ông và mong tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp để doanh nghiệp bưu chính không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ người dân ngày càng tốt hơn.

           Trân trọng./.
Độc giả: Nguyễn Sơn Tùng - Trung tâm CNTT & TT Bắc Kạn
tungns@backan.gov.vn

Thông tư 23/2020/TT-BTTTT, phạm vi điều chỉnh có nêu "Thông tư này quy định về các nội dung đặc thù của hợp đồng thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong hoạt động thuê dịch vụ công nghệ thông tin không sẵn có trên thị trường"

Mình muốn hỏi : Vậy các hợp đồng thuê dịch vụ CNTT có sẵn trên thị trường như, Dịch vụ giám sát ATTT, dịch vụ thuê đường truyền internet... thì áp dụng theo thông tư nào, hiện mình đang áp dụng theo Thông tư 24/2020/TT-BTTTT có đúng không?

- 4 tháng trước
Trả lời:

Căn cứ Điều 1, Điều 2 Thông tư số 23/2020/TT-BTTTT ngày 09/92020 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định các nội dung đặc thù của hợp đồng thuê dịch vụ công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, hợp đồng thuê dịch vụ công nghệ thông tin sẵn có được xây dựng theo mẫu hợp đồng của pháp luật đấu thầu (các Thông tư của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về mẫu hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu) và vận dụng các nội dung hướng dẫn tại Thông tư 23/2020/TT-BTTTT nếu thấy phù hợp.

Độc giả: TUAN ANH TRAN - HA NOI
TUANANH.THUNDERSKY@HOTMAIL.COM

Kính gửi Bộ Thông Tin và Truyền Thông

Chúng tôi có dự định mượn máy tính xách tay (laptop) từ công ty mẹ của chúng tôi ở nước ngoài về văn phòng Việt Nam để thực hiện hoạt động giới thiệu sản phẩm trong thời gian từ một đến hai năm. Máy tính xách tay không bán ra thị trường nhưng được giới thiệu ở nhiều quốc gia nên là máy đã qua sử dụng. 

Theo khoản 1, Điều 4,  Quyết định 18/2016/QĐ-TTg về các trường hợp cho phép nhập khẩu thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, trường hợp của chúng tôi có thuộc diện áp dụng điều trên hay không.

Kính mong Quý Bộ hướng dẫn.
- 4 tháng trước
Trả lời:

 Theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 5 Quyết định số 18/2016/QĐ-TTg ngày 06/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ quy định các trường hợp cho phép nhập khẩu hàng hóa thuộc Danh mục sản phẩm CNTT đã qua sử dụng cấm nhập, điều kiện, tiêu chí đối với trường hợp nhập khẩu sản phẩm CNTT đã qua sử dụng theo hình thức di chuyển phương tiện sản xuất trong cùng một tổ chức bao gồm:

- Sản phẩm nhập khẩu chỉ phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất của người nhập khẩu.

- Sản phẩm nhập khẩu phải là tài sản của tổ chức ở nước ngoài có mối quan hệ với người nhập khẩu thông qua sở hữu cổ phần, phần góp vốn hoặc liên kết khác.

Máy tính xách tay đã qua sử dụng thuộc Danh mục sản phẩm CNTT đã qua sử dụng cấm nhập khẩu theo quy định tại Thông tư số 11/2018/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông công bố chi tiết Danh mục sản phẩm CNTT đã qua sử dụng cấm nhập khẩu kèm theo mã số HS. Trường hợp công ty mượn máy tính xách tay từ công ty mẹ ở nước ngoài về văn phòng Việt Nam để thực hiện hoạt động giới thiệu sản phẩm trong thời gian từ 01-02 năm, không phải dùng cho mục đích phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất của công ty nên không thuộc trường nêu tại khoản 1 Điều 4 của Quyết định số 18/2016/QĐ-TTg.

Đối với trường hợp tạm nhập tái xuất, doanh nghiệp có thể tham khảo thêm các quy định tại Nghị định số 69/2018/NĐ-CP  ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương và liên hệ với Bộ Công Thương để được hướng dẫn chi tiết.

Độc giả: Lâm Hiền - 133/12 Lê Hồng Phong , P3, Q.5, Tp.HCM
andytran8699@gmail.com

 Kính gửi Bộ Thông tin và Truyền thông,

Tôi : Lâm Hiền là chủ thuê bao số điện thoại 0903***367. 

Tôi xin trình bày sự việc của tôi như sau: Sau khi tôi nạp 200.000 vào số tài khoản điện thoại của tôi (ngày 27/11/2021) thì  Mobifone không tự động gia hạn gói cước C90 của tôi mặc dù ngày 26/11/2021 tổng đài 999 có thông báo gói cước C90 của tôi bị hết hạn và sẽ tự động gia hạn gói cước trong 30 ngày nếu tôi nạp đủ tiền. Nhưng kết quả Mobifone không tự động gia hạn cho tôi mà lại tự tính cước 3G theo cách tính cước thông thường.

Tôi đã liên hệ tổng đài vào ngày 28/11/2021 để khiếu nại và báo cáo sự việc trên cũng như yêu cầu bồi hoàn số tiền trên nhưng đến nay đã sang ngày thứ 4 mà tôi vẫn chưa nhận kết quả. 

Kính mong Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn giải quyết giúp sự việc trên trả lại sự công bằng cũng như quyền lợi khách hàng. 

Trân trọng cảm ơn.

- 5 tháng trước
Trả lời:

 Cục Viễn thông đã trao đổi với Mobifone và xin gửi ý kiến của Mobifone, cụ thể như sau:

Thuê bao 0903***367 bị phát sinh cước ngoài mất đồng bộ, không gia hạn tự động gói cước C90, MobiFone có tiếp nhận được phản ánh của khách hàng qua Tổng đài hỗ trợ khách hàng và đã giải thích : MobiFone sẽ kiểm tra và hoàn cước phát sinh cho khách hàng.

Lúc 14h11 ngày 14/12/2021 khách hàng đã được hoàn 197.850 đồng vào tài khoản chính, MobiFone đã liên hệ/trao đổi thông tin bù cước với khách hàng, Khách hàng đồng ý cách giải quyết của MobiFone.
Độc giả: Võ Thành Trung - Đại học Kiến trúc Đà Nẵng
trungvt@dau.edu.vn

Kính gửi Bộ TTTT,

Tôi tên là Võ Thành Trung, hiện đang công tác tại Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng.

Trường chúng tôi đang xây dựng kế hoạch để thành lập Tạp chí KHCN trực thuộc Trường,

Xin cho tôi hỏi thủ tục cụ thể để có thể được chấp nhận thành lập Tạp chí KHCN có chỉ số ISSN?

Tôi xin chân thành cảm ơn,

- 5 tháng trước
Trả lời:

Cục Báo chí trả lời như sau:

1. Khoản 2 Điều 14 Luật Báo chí năm 2016 quy định đối tượng được thành lập cơ quan báo chí, trong đó quy định: “Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ; bệnh viện cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên được thành lập tạp chí khoa học”.

Như  vậy, Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng được thành lập Tạp chí khoa học theo quy định.

2. Về hồ sơ thủ tục đề nghị cấp giấy phép tạp chí khoa học:

Thực hiện theo quy định tại Điều 6, Điều 11, Điều 15 Thông tư số 41/2020/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết và hướng dẫn việc cấp giấy phép hoạt động báo in, tạp chí in và báo điện tử, tạp chí điện tử, xuất bản thêm ấn phẩm, thực hiện hai loại hình báo chí, mở chuyên trang của báo điện tử và tạp chí điện tử, xuất bản phụ trương, xuất bản bản tin, xuất bản đặc san.

3. Về cấp chỉ số ISSN không thuộc thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông.