Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ sáu, ngày 23/02/2024

Số hóa truyền hình mặt đất Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: nguyễn thị hồng nhung - 3/34/47 Xuân La - Tây Hồ - Hà Nội
nhungkien@dlgroup.com.vn

Công ty chúng tôi đang định mở 1 sàn giao dịch về bất động sản, xin hỏi Bộ Thông tin và Truyền thông chúng tôi cần phải có những văn bản pháp quy nào để có thể đưa sàn giao dịch đi vào hoạt động?

- 11 năm trước
Trả lời:

Vụ Pháp chế xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Cảm  ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi. Chúng tôi xin đưa ra một số gợi ý để bạn tham khảo:

- Việc thiết lập sàn giao dịch về bất động sản, công ty bạn cần tuân thủ các quy định của luật Kinh doanh bất động sản 2006 và các văn bản có liên quan.

- Trường hợp công ty bạn muốn mở sàn giao dịch trên mạng Internet, tức là thiết lập trang thông tin điện tử. Ngoài các quy định của luật chuyên ngành, Công ty bạn phải tuân thủ các qui định của Luật Công nghệ thông tin và Nghị định số 97/2008/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet. Cụ thể việc thiết lập trang thông tin điện tử tuân theo nguyên tắc:
"1. Việc thiết lập trang thông tin điện tử, việc cung cấp, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin điện tử trên Internet phải tuân thủ các quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về báo chí, pháp luật về xuất bản, pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, pháp luật về bản quyền, pháp luật về quảng cáo và các quy định quản lý thông tin điện tử trên Internet.
2. Các cơ quan báo chí đã được cấp Giấy phép hoạt động báo điện tử theo quy định của pháp luật về báo chí được thiết lập trang thông tin điện tử sử dụng cho hoạt động báo chí.
3. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp phải có giấy phép do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp.
4. Các doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử để cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông.
5. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử và sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ ứng dụng chuyên ngành trên Internet thực hiện theo các quy định của pháp luật chuyên ngành và các quy định liên quan tại Nghị định này.
6. Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thiết lập các trang thông tin điện tử không thuộc các đối tượng quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều này thì không cần giấy phép và không cần đăng ký, nhưng phải tuân theo các quy định tại Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet”
 
 Công ty bạn cần căn cứ vào nhu cầu của mình đề thực hiện các thủ tục thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet cho phù hợp.

Độc giả: Nguyễn Tấn Dương - 35 đường 30-4, phường 1, tp Vĩnh Long
tanduong@vinhlong.gov.vn

Theo cá nhân tôi, năm 2008 Bộ TT&TT tổ chức trả lời trực tuyến cũng có nhiều hiệu quả, giải đáp được khá nhiều những thắc mắc, khó khăn của cơ sở, nhưng sao năm nay Bộ không còn tổ chức nữa? Nghị định 97 đã có hiệu lực, địa phương chúng tôi rất lúng túng trong việc xử lý vi phạm chơi game online gần trường học. Vì TTLT 60 chỉ căn cứ NĐ 55 và đến nay chưa có TT nào hướng dẫn điều chỉnh việc này. Vậy Bộ có ban hành thông tư nào điều chỉnh việc chơi game online không và hiện nay ở địa phương chúng tôi nên áp dụng văn bản nào phù hợp nhất. Rất mong nhận được trả lời của Bộ. Thân ái! (có thể trả lời qua email)

- 11 năm trước
Trả lời:

Xin chào bạn Tấn Dương,

 

Bạn có thể tham khảo câu trả lời của Bộ Thông tin và Truyền thông trong các câu hỏi số 2, 5, 18, 38, 56, 71 ....

 

Trân trọng,

Ban biên tập

Độc giả: Đỗ Mạnh Quyết - Hoài Đức - Hà Tây
quyetdm@yahoo.com.vn

Tôi muốn đăng ký Bản quyền về Nội dung và các Dịch vụ của một Website có được không? Nếu được thì cần những thủ tục gì? Rất mong có được câu trả lời sớm nhất. Tôi xin chân thành cám ơn! Đỗ Mạnh Quyết.

- 11 năm trước
Trả lời:

Vụ Pháp chế và Vụ Khoa học công nghệ xin trả lời bạn như sau:

a) Để đăng ký bản quyền về nội dung của website, bạn cần xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả. Hồ sơ cần gửi tới Cục bản quyền tác giả, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Chi tiết về hồ sơ được nêu trong Nghị định 100/2006/NĐ-CP. Cụ thể hồ sơ gồm:
- Đơn xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả (theo mẫu)
Đơn xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả phải được viết bằng tiếng Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hoặc người được ủy quyền nộp đơn ký tên. Nếu pháp nhân nộp đơn thì phải ký tên đóng dấu theo quy định.
- Tác phẩm đăng ký quyền tác giả, quyền sở hữu tác phẩm, 2 bản
Đối với những tác phẩm có đặc thù riêng như tranh, tượng, tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng gắn với công trình kiến trúc và những loại hình tương tự, tác phẩm trong hồ sơ đăng ký là bản thiết kế, phác thảo hoặc ảnh chụp (đen trắng) thể hiện đầy đủ ý tưởng sáng tạo.
- Giấy tờ tùy thân (CMT, hộ chiếu) của người đến nộp hồ sơ
Ngoài các giấy tờ quy định trên, nếu người nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả là người được ủy quyền; chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả thì phải có giấy tờ chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp. Các giấy tờ này nếu bằng tiếng nước ngoài thì phải kèm theo bản dịch tiếng Việt có dấu công chứng nhà nước.
- Lệ phí
b) Để đăng ký sở hữu trí tuệ dịch vụ trong website, bạn cần đăng ký sáng chế và thiết kế bố trí tại Cục sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ. Chi tiết thủ tục nêu trong Nghị định 105/2006/NĐ-CP. Cụ thể là:
- Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định;
- Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện đối tượng sở hữu công nghiệp đăng ký bảo hộ
- Giấy uỷ quyền, nếu đơn nộp thông qua đại diện;
- Tài liệu chứng minh quyền đăng ký, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác;
- Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên, nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên;
- Chứng từ nộp phí, lệ phí.

Độc giả: Bui Quang Dieu - Cầu Giấy - Hà Nội
dieubq@yahoo.com

Tôi xin được hỏi là cần làm thủ tục gì để được phép đưa một trang web giao dịch mua bán hàng qua mạng. Tôi xin trân thành cảm ơn !

- 11 năm trước
Trả lời:

Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Hiện nay, Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet thay thế Nghị định số 55/2001/NĐ-CP đã có hiệu lực, khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 19 Nghị định này quy định như sau:
3. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp phải có giấy phép do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp.
4. Các doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử để cung cấp dịch vụ mạng xã hội trực tuyến phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông.
5. Các tổ chức, doanh nghiệp thiết lập trang thông tin điện tử và sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ ứng dụng chuyên ngành trên Internet thực hiện theo các quy định của pháp luật chuyên ngành và các quy định liên quan tại Nghị định này.
6. Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thiết lập các trang thông tin điện tử không thuộc các đối tượng quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều này thì không cần giấy phép và không cần đăng ký, nhưng phải tuân theo các quy định tại Nghị định này và các quy định về quản lý thông tin điện tử trên Internet.
Hiện nay, Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử đang chủ trì xây dựng thông tư hướng dẫn một số điều của Nghị định 97 về quản lý thông tin điện tử trên internet.

Độc giả: Nguyễn Tiến Thành - vinh long
Thanhnt9@fpt.com.vn

Tôi muốn hỏi về thông tin dán tem hợp chuẩn đối với điện thoại di động, hiện tại Quyết định 22/2005/QĐ-BBCVT ban hành sẽ không áp dụng dán tem hợp chuẩn đối với điện thoại di động nữa, đến nay không rõ quyết định này còn hiệu lực hay không, nếu không thì Quyết định nào bát bỏ điều khoản của Quyết định số 22/2005.

- 11 năm trước
Trả lời:

Vụ Khoa học Công nghệ xin trả lời như sau:

Theo Quyết định 44/2006/QĐ-BBCVT ngày 03/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) ban hành “Quy định chứng nhận và công bố phù hợp tiêu chuẩn đối với sản phẩm thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Bưu chính Viễn thông” thì các Quyết định 42/2004/QĐ-BBCVT ngày 5/10/2004 ban hành "Danh mục thiết bị viễn thông bắt buộc gắn tem phù hợp tiêu chuẩn" và Quyết định 22/2005/QĐ-BBCVT ngày 30/6/2005 về việc sửa đổi Quyết định số 42/2004/QĐ-BBCVT đã không còn hiệu lực và được thay thế bởi Quyết định 44/2006/QĐ-BBCVT.
Quyết định 44/2006/QĐ-BBCVT quy định doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh sản phẩm viễn thông thuộc danh mục bắt buộc phải chứng nhận hợp chuẩn phải đánh dấu công bố phù hợp tiêu chuẩn theo các quy định của Bộ Bưu chính, Viễn thông.
Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đang xem xét sửa đổi Quyết định 44/2006/QĐ-BBCVT phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước mới ban hành.

Độc giả: lương công đức - sở bcvt Phú Yên
congduc75@yahoo.co.uk

Kính chào Thứ trưởng Trần Đức Lai 1/ Xin Thứ Trưởng cho biết việc quản lý các trạm BTS ở các địa phương trên cả nước được quản lý theo TTLT 01 và 12 về quản lý phát triển trạm gốc điện thoại di động mặt đất công cộng BTS ở các địa phương hiện nay như thế nào? 2/ Bộ TTTT đã có Thông tư hay văn bản hướng dẫn các doanh nghiệp sử dụng chung trạm BTS chưa? Nếu có thì ở văn bản nào? tránh gây lãng phí việc đầu tư xây dựng nhà trạm và làm mất mỹ quan đô thị? 3/ Hiện nay theo tôi được biết tất cả thủ tục cấp phép về lĩnh vực BCVT, CNTT đều thông qua các cơ quan trực thuộc Bộ. Vậy Bộ có chủ trương chuyển những loại giấy phép nào về các sở địa phương cấp? quy định các loại phí và lệ phí mà tổ chức, cá nhân phải nộp? tránh việc mất thời gian đi lại của doanh nghiệp thực hiện theo chủ trương CCHC của Chính phủ. Xin chúc Thứ trưởng và gia đình sức khỏe, hạnh phúc. Cảm ơn Thứ trưởng! Chào trân trọng

- 11 năm trước
Trả lời:

Để đẩy mạnh phát triển mạng viễn thông phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện cải cách thủ tục hành chính đối với việc cấp giấy phép xây dựng trạm thu, phát sóng thông tin di động (BTS) mà vẫn đảm bảo không trái với Luật Xây dựng, Liên Bộ Xây dựng - Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT ngày 11/12/2007 hướng dẫn về cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình trạm thu, phát sóng thông tin di động ở các đô thị.

Theo đó:

+ Các trạm BTS được xây dựng trực tiếp trên đất (BTS loại 1), việc cấp giấy phép xây dựng thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư số 02/2007/TT-BXD của Bộ Xây dựng và theo khoản 2, mục I của Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT.

+ Các trạm BTS được lắp đặt trên các công trình xây dựng sẵn có (BTS loại 2) nếu thuộc Khu vực phải xin phép xây dựng thì cần có Giấy phép xây dựng. Khu vực phải xin phép xây dựng ở các đô thị bao gồm:

++./ Khu vực sân bay,  khu vực an ninh quốc phòng

++./ Khu vực trung tâm văn hoá, chính trị cần phải quản lý về kiến trúc, cảnh quan đô thị.

++./ Các khu vực khác cần phải quản lý về kiến trúc, cảnh quan đô thị.

+ Các trạm BTS loại 2 nằm ngoài Khu vực phải xin phép xây dựng thì được miễn Giấy phép xây dựng nhưng phải đảm bảo các điều kiện nêu tại Thông tư liên tịch 12 nêu trên.

1.2. Theo Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông và Nghị định 160/2004/NĐ-CP, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng chung cơ sở hạ tầng. Việc sử dụng chung các trạm phát sóng sẽ tránh lãng phí nhưng việc sử dụng chung này cũng phải phù hợp với qui hoạch, thiết kế mạng của từng doanh nghiệp chứ không đơn thuần là việc lắp đặt các ăn ten trên cùng 1 cột. Ví dụ, cùng 1 cột, nhà khai thác A xây dựng và đã sử dụng vị trí về độ cao và hướng này rồi thì các nhà khai thác khác muốn dùng cùng độ cao và hướng đó sẽ không thể lắp đặt ăn ten vào đấy được nữa. Sắp tới nội dung này sẽ được qui định chi tiết hơn trong Luật Viễn thông.

Triển khai Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT/BXD-BTTTT Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Công văn số 243/BTTTT-KHTC hướng dẫn các Sở BCVT cần cụ thể hóa các tiêu chí nhằm xác định phạm vi và công bố Khu vực phải xin phép xây dựng tùy theo tình hình quy hoạch xây dựng đô thị tại địa phương.

1.3./ Cũng theo Thông tư liên tịch số 12/TTLT/BXD-BTTTT và văn bản số 243/BTTTT-KHTC hướng dẫn trên, Sở BCVT cần nắm bắt, yêu cầu các doanh nghiệp đề xuất kế hoạch và báo cáo dự kiến vị trí xây dựng các trạm BTS loại 2 ở đô thị và trên cơ sở quy hoạch phát triển ngành trên địa bàn để thống nhất với Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan của địa phương để khoanh vùng, xác định phạm vi cần xin phép xây dựng. Đặc thù của viễn thông hoàn toàn khác với các lĩnh vực dịch vụ khác, một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông sẽ mang tính toàn quốc, không thể có mạng công cộng chỉ cung cấp dịch vụ cho 1 tỉnh vì khả năng truy cập của bất kỳ 1 thuê bao nào trên toàn quốc (điện thoại, Internet) đến mạng, do vậy để thống nhất quản lý, tránh chồng chéo, đầu tư lãng phí thì việc quản lý việc cấp phép cần phải tập trung, đây cũng là thông lệ quốc tế. Tại Việt Nam việc này đã được qui định tại Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông và Nghị định 160/2004/ND-CP.